Hà Nội, ngày 25-07-2021

Cải lương Hà Nội xưa

06/12/2020 06:12 | 0

(HNMCT) - Trong nghệ thuật cải lương có câu “Nam cương, Bắc ứng”, có nghĩa là các nghệ sĩ cải lương miền Nam rất giỏi diễn cương, họ không cần kịch bản, còn nghệ sĩ cải lương miền Bắc thì rất giỏi ứng đối. Gọi là cải lương Bắc (hát theo giọng Bắc) nhưng thực ra là cải lương Hà Nội, vì Hà Nội là nơi đầu tiên ở miền Bắc du nhập bộ môn nghệ thuật này.

Rạp Chuông Vàng xưa.

Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, dù lớp người cao tuổi ở Hà Nội vẫn mê chèo nhưng một số thanh niên lại thích cải lương nên họ đã mua các đĩa hát do hãng thu âm của Pháp là Pathé và Béka sản xuất để nghe rồi hát theo. Từ thích đến yêu nên họ đã lập ra các nhóm cải lương nghiệp dư. Hai trong số các nhóm nghiệp dư có tiếng tăm thời bấy giờ là “Tài tử Đồng ấu” và “Tài tử phố Hàng Giấy”. Đến năm 1926, Hà Nội vẫn chưa có cải lương mang tính chuyên nghiệp.

Năm 1927, “Nghĩa Hiệp ban” - gánh cải lương đầu tiên ở Sài Gòn ra Hà Nội biểu diễn ở rạp Quảng Lạc (nay là số 8 phố Tạ Hiện), vốn là rạp chuyên diễn chèo. Trong 4 đêm diễn này, khán giả chen chúc mua vé. Chủ rạp Quảng Lạc nhìn thấy cơ hội thành lập gánh hát của riêng mình nên gây khó khăn cho “Nghĩa Hiệp ban” bằng cách tăng tiền thuê rạp, đồng thời bí mật dụ dỗ một số đào kép chính. Biết mưu mô của chủ rạp Quảng Lạc, bầu gánh Nguyễn Văn Đẫu bất bình liền thuê rạp Thăng Long trên phố Hàng Bạc (sau đổi tên là rạp Chuông Vàng, nay là Nhà hát Cải lương Hà Nội) diễn liền 7 tối.

Thấy diễn cải lương đông khách nên chủ rạp chiều chuộng ông bầu Nguyễn Văn Đẫu, đổi tên rạp Thăng Long thành Cải lương hí viện rồi sau đó là Tố Như. Cay cú nhưng chủ rạp Quảng Lạc vẫn không từ bỏ tham vọng, tiếp tục lôi kéo đào kép và ông ta đã thành công khi Quảng Lạc là rạp đứng chân thường xuyên của các gánh hát từ Nam ra.

Năm 1932, gánh cải lương Phước Cương ra Hà Nội thuê rạp Philharmonique (nay là Nhà hát Múa rối Thăng Long, phố Đinh Tiên Hoàng) để diễn. Dân chúng Hà Nội đổ xô mua vé xem cô Năm Phỉ “mặc váy nhảy valse” đóng vai Bàng Quý Phi. Vì diễn ở Hà Nội khán giả luôn kín rạp nên nhiều gánh cải lương ở Sài Gòn năm nào cũng ra lưu diễn. Cũng trong thời gian này, nhiều thanh niên Hà Nội có giọng hát hay đã khăn gói vào Sài Gòn theo các gánh hát để học.

Một trong những người đầu tiên trở thành diễn viên chuyên nghiệp là Sỹ Tiến. Ông là diễn viên người Bắc duy nhất của gánh “Tân Hí ban” ở Sài Gòn. Biết rạp chuyên diễn chèo Sán Nhiên Đài (nay là 50 phố Đào Duy Từ) của ông bầu Trương Văn Tố cũng có ý thành lập gánh cải lương nên ông Đẫu đã nhường lại một số đào kép và “Nghĩa Hiệp ban” tan rã. Để tiết kiệm chi phí và có ngay diễn viên tham gia các vở, chủ rạp đã nhờ chính các diễn viên, nhạc công của “Tân Hí ban” truyền nghề cho người có thanh có sắc ở Hà Nội mong muốn theo nghiệp cải lương. Và rồi cả Sán Nhiên Đài và Quảng Lạc đều có diễn viên Nam diễn chung với diễn viên Bắc mà hát không hề chênh giọng. Đó là những bước đi đầu tiên của cải lương Hà Nội.

Nghệ sĩ Sỹ Tiến và đồng nghiệp trước giờ biểu diễn tại rạp cải lương Chuông Vàng.

Hầu hết các vở cải lương đều khai thác các đề tài có nội dung éo le, bi thảm, khốn khổ của đàn bà nên thu hút rất đông các bà, các cô đi xem. Có loại khán giả rất đắm đuối với cải lương, đó là các cô làm nghề hát cô đầu. Cải lương sinh ra cứ như dành riêng cho họ, vì thế, chỗ nào có nhiều nhà hát cô đầu, nhà săm thì thế nào cũng có rạp cải lương.

Đối diện với ngõ Vạn Thái, ngõ nổi tiếng về hát cô đầu ở phố Bạch Mai có rạp Lý Vịt, thực ra là rạp Lạc Thành (sau chuyển thành rạp chiếu bóng Bạch Mai), nhưng vì ông chủ họ Thành này là Lý trưởng lại có lò ấp vịt giống nên người ta gọi như vậy. Năm 1938 xuất hiện rạp cải lương nằm ở phố Đại La gần ngã tư Trung Hiền (nay là ngã tư Mơ) vì khu vực này có vài chục nhà hát với hơn 200 cô đầu. Còn gần Cầu Mới (Ngã Tư Sở), năm 1941 xuất hiện rạp Thiên Xuân Đài, chuyên diễn cải lương. Vì khán giả bỏ chèo chuyển sang cải lương nên năm 1943, Hà Nội đã có 16 gánh hát cải lương lớn nhỏ.

Tháng 12-1946, hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, dân phố tản cư về các vùng quê. Một số gánh hát về diễn ở nông thôn cầm cự chờ ngày trở lại nên các rạp phải đóng cửa. Đầu năm 1948, dân lác đác trở về, Hà Nội dần đông đúc và các rạp lại sáng đèn. Lúc này các vở chủ yếu lấy tích cổ của Trung Hoa và Việt Nam. Năm 1951, nhiều vở cải lương mô phỏng theo phim Mỹ nên người ta gọi là La Mã diễm huyền. Hai đoàn Kim Phụng và Kim Chung khá đông khách.

Năm 1954, nhiều diễn viên và chủ gánh hát di cư vào Nam. Nghệ sĩ Mộng Dần ở đoàn Kim Chung không di cư đã vận động một số diễn viên tiếp tục hát nên được gọi là Kim Chung mới. Năm 1957, Kim Chung mới đổi thành Chuông Vàng còn Kim Phụng vẫn giữ nguyên tên và cả hai trở thành các đoàn cải lương do Sở Văn hóa Hà Nội quản lý.

Nguyễn Ngọc Tiến
Bình luận
  • Chọn ngày:
  • /
  • /