Hà Nội, ngày 17-02-2020

Những làng chèo ven sông Nhuệ

19/12/2019 09:50 | 0

(HNMCT) - Nhuệ Giang vốn dĩ là con sông hiền hòa. Ven con sông có nhiều làng nghề, làng cổ và những đội hát chèo truyền thống. Ở những nơi đó, nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ vẫn tiếp tục truyền dạy lời ca tiếng hát cho thế hệ sau, duy trì hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, tôn bồi những giá trị tốt đẹp của Thủ đô Hà Nội.

Đội văn nghệ Tân Hoàng (phường Cổ Nhuế 1) biểu diễn hát chèo.

Không để hao mòn bản sắc

Từ phía bắc - “thượng nguồn” của sông Nhuệ là phường Cổ Nhuế 1, phường Đông Ngạc (quận Bắc Từ Liêm) đến nhiều xã ở đoạn sông chảy qua huyện Thường Tín, Phú Xuyên đều có những đội văn nghệ, đến nay vẫn duy trì và gìn giữ nghệ thuật chèo truyền thống.

Theo làn điệu chèo Đào liễu: “Đào liễu có một i mình, em đi đâu hỡi cô nàng ơi, đào liễu có một i mình, ấy kìa hai vai đang còn gánh i nặng, mà để nhập trình nhập trình đường xa, rõ ràng tấm áo tấm áo sòng i em i...”, tôi tìm về làng cổ Đông Ngạc (phường Đông Ngạc). Chị Hồng Nhung, thành viên của Đội Văn nghệ Nhật Tảo 4 của làng Đông Ngạc chia sẻ: “Chúng tôi hoạt động khá bài bản. Ngoài ca sĩ được luyện giọng tương đối tốt, còn có biên đạo múa, đạo diễn. Tuy là những ca sĩ không chuyên nhưng các thành viên trong đội đều nhiệt tình, mong muốn đóng góp một phần nhỏ sức mình vào việc gìn giữ chiếu chèo, phát huy giá trị văn hóa chung của thành phố”. Chị Nhung cho biết, các tiết mục chèo của Đội Văn nghệ Nhật Tảo 4 không còn “đóng hộp” trên sân khấu mà được đưa trở lại đúng với không gian diễn xướng của chèo như đình làng, hội xuân hay các dịp kỷ niệm, hội nghị của địa phương. Ngoài hát chèo, các "nghệ sĩ" của làng Đông Ngạc còn luyện tập, hát các ca khúc cách mạng, ca khúc hiện đại để tạo sự đa dạng, thêm "đất sống" cho đội văn nghệ trong đời sống đương đại.

Cạnh phường Đông Ngạc, nhiều năm qua Đội Văn nghệ Tân Hoàng (phường Cổ Nhuế 1) cũng đã đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, tuyên truyền về tinh thần đoàn kết, đẩy lùi tệ nạn xã hội trong từng ngõ phố, xóm trọ, khu dân cư. Các cụ già ở làng cho biết, ngày xưa khi sông Nhuệ còn là một tuyến giao thông đường thủy tấp nập, những bến sông không chỉ là nơi neo đậu thuyền, vận chuyển hành khách, hàng hóa mà còn là những “bến hát”, tổ chức văn nghệ vào dịp lễ hội, những đêm trăng thanh gió mát. Đội Văn nghệ Tân Hoàng hiện có hơn 50 thành viên, trong đó có cả các học sinh tiểu học, còn lại phần lớn là các "nghệ sĩ" ở tuổi 60 vẫn say mê văn nghệ, hát chèo. Bà Trúc Mai, thành viên Đội Văn nghệ Tân Hoàng, cho hay: “Trong cuộc sống hiện đại, rất nhiều cái bị mất đi. Những làn điệu chèo cũng bị mai một. Nhưng ở thời nào thì văn nghệ nói chung vẫn có đất sống. Cho nên mỗi thành viên chúng tôi đều đa năng, hát được nhiều thể loại”.

Xuôi xuống huyện Thường Tín, tôi tìm về làng Nghiêm Xá của xã Nghiêm Xuyên, đất khoa bảng với 13 ông tiến sĩ và những người nông dân rất đỗi yêu chèo, đã chung tay đưa Đội chèo Nghiêm Xá phát triển. Họ biết cách để chèo ngấm vào đời sống. Sau những giờ làm đồng ruộng mệt nhọc, họ ngồi hát cho nhau nghe hoặc đi giao lưu với các đội bạn trong huyện, trong thành phố và cả những tỉnh lân cận. Lại nữa, những đêm trăng rằm hay vào giữa mùa vụ, chỉ cần cảm thấy cần có không khí động viên là người dân lại tổ chức một chiếu chèo, cho khí thế! Giữa thời buổi kinh tế thị trường, khung cảnh này thật lạ lẫm nhưng đáng tự hào biết bao.

Người được người dân Nghiêm Xá kính trọng nhất là ông Nguyễn Hữu Bột. Ông thuộc nhiều làn điệu chèo cổ và được gọi là “cụ vác tù và hàng tổng”, nhiều năm giữ cương vị Chủ nhiệm Câu lạc bộ Gia đình văn hóa, Đội trưởng Đội chèo Nghiêm Xá. Khi ông yếu, không hát được nữa thì lần lượt các ông Nguyễn Hữu Ích, bà Nguyễn Thị Hời, ông Phạm Anh Hóa lên thay. Ngày nay, chèo trở nên khá xa lạ, nhất là đối với lớp trẻ, nhưng người Nghiêm Xá vẫn dành cho chèo một tình yêu trọn vẹn. Ông Phạm Anh Hóa nói: “Cha tôi mê chèo, tôi mê chèo, vợ tôi mê chèo. Sau này con cháu chúng tôi cũng vậy. Đó là một bản sắc văn hóa không bao giờ để hao mòn”.

Nhiều năm qua, Đội chèo Nghiêm Xá hoạt động rất tốt, biểu diễn ở nhiều nơi, nổi tiếng chẳng những trong địa bàn thành phố Hà Nội mà còn lan đến các tỉnh bạn. Cơ sở vật chất tuy chẳng có gì nhiều nhặn nhưng ai cũng nhiệt tình, đóng góp tiền mua nhạc cụ, trang phục và những thứ cần thiết để phục vụ biểu diễn.

Ông Phạm Anh Hóa kể rằng, hoạt động văn nghệ của làng từng bị lắng xuống trong chiến tranh. Đến năm 1998, cuộc sống khấm khá dần lên, Đội chèo Nghiêm Xá được khôi phục, dưới sự giúp đỡ của Câu lạc bộ Gia đình văn hóa. Bà Nguyễn Thị Phin vừa là diễn viên, vừa là biên đạo múa. Cứ tìm được đề tài mới là bà lại nhiệt tình đưa ra để mọi người tập, cùng diễn rôm rả. Vì là đội văn nghệ có tiếng nên ngày trước huyện Thường Tín thường chọn cử tham gia cuộc thi tiếng hát toàn tỉnh Hà Tây (cũ). Những năm gần đây, Đội chèo Nghiêm Xá đã tham gia nhiều cuộc thi, các tiết mục xuất hiện nhiều trên đài phát thanh, trên sóng truyền hình trung ương và địa phương... Ông Hóa “khoe”, ngoài truyền thống văn nghệ, Nghiêm Xá còn có tiếng là làng hiếu học. Cứ 15 người thì có một người có bằng đại học. Người Nghiêm Xá đi làm ăn, làm công chức ở khắp các miền Tổ quốc. Phố Nguyễn Hữu Huân ở trung tâm Hà Nội có nhiều người con của làng Nghiêm Xá cư trú. Ngôi làng ngày càng trở nên sung túc do có nhiều người là trí thức, doanh nhân buôn bán giỏi.

Còn đó những buổi diễn chèo say sưa, mê đắm

Làng Trung Lập thuộc xã Tri Trung (huyện Phú Xuyên) cũng có nhiều nông dân “chân lấm tay bùn” nhưng rất đỗi yêu chèo. Ngôi làng thanh bình nép mình bên sông Nhuệ, có những cánh đồng bát ngát. Đoạn sông Nhuệ chảy qua Phú Xuyên xưa vốn nổi tiếng với những trung tâm thương mại “trên bến, dưới thuyền”: Kẻ Sổ, Kẻ Trê, Kẻ Trể, Kẻ Mè, Kẻ Sộp, Kẻ Quán, Kẻ Dũi, Kẻ Khang, Kẻ Dực, Kẻ Lựu... Ông Lê Trung Đản ở làng Trung Lập chia sẻ: “Khi công việc nhà nông đỡ bận rộn, chúng tôi lại tụ tập nhau lại, cất lên những giai điệu ca ngợi cuộc sống ân nghĩa thủy chung, tình yêu quê hương đất nước, đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội. Dù nhiều người đã lên chức ông chức bà nhưng khi tham gia hát họ lại như quay trở về thuở mười tám, đôi mươi”.

Ông Nguyễn Văn Quảng, một người có nhiều công đóng góp cho Đội chèo Trung Lập, chia sẻ: “Cha ông chúng tôi thành lập đội văn nghệ của làng từ năm 1936. Ngày đó chỉ hát cải lương, sau thêm môn hát tuồng, đến năm 1969 thì chuyển sang hát chèo và đổi tên là Đội chèo Trung Lập. Những người có công khơi dậy phong trào là cụ Lê Đình Nguyên, Lê Trung Đàn, Nguyễn Văn Bất... Con cháu các cụ sau này đều trở thành thế hệ kế tiếp nhiệt tình gìn giữ tích chèo cổ”.

Cũng theo lời các lão làng, làng Trung Lập là ngôi làng thuần nông, ngày xưa có nghề vác đất, đắp đất để kiếm sống. Cái đói, cái nghèo có thể vắt kiệt sức lực nhưng không kiềm chế được tình yêu của họ đối với chèo. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, người Trung Lập tích cực tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nhiều người đã hy sinh anh dũng, ai còn sống trở về sau ngày đất nước thống nhất thì tiếp tục củng cố đội chèo. Đội chèo Trung Lập từ đó đi biểu diễn ở nhiều nơi, sau khi biểu diễn rồi ai lại về nhà nấy, lo làm lụng, gắn bó với rau màu, đồng ruộng, nuôi giọng hát mỗi tối để đến dịp lại lên đường. Đội chèo Trung Lập còn xuống các làng chèo ở mạn Hà Nam để chia sẻ kinh nghiệm. Các “nghệ sĩ nhân dân” kỳ cựu nói rằng, chính họ ngày đó cũng không biết mình lấy đâu ra sức lực mà nhiệt tình đến như vậy, có đêm biểu diễn đến 2 vở trường kịch!

 “Chúng tôi tham gia vì vui, vì phong trào văn nghệ và tình yêu với chèo”. Người dân khẳng định chắc như đinh đóng cột như vậy, dù tham gia đội chèo mất công mất việc, thậm chí tốn kém tiền của. Những người dân mê hát chèo cứ say sưa nhắc về kỷ niệm vui buồn của những ngày tháng đi diễn. Thời hoàng kim chèo làng Trung Lập rất có tiếng trong làng chèo Hà Nội. Họ từng phải dùng xe bò cải tiến chở khung sân khấu, phục trang, đồ dùng đi khắp nơi biểu diễn, đồng thời cũng giúp bà con ở những vùng khác thành lập đoàn chèo, thúc đẩy phong trào văn nghệ quần chúng đi lên.

Những làng quê ven sông Nhuệ vốn trước đây là ngoại thành, nay đã đô thị hóa, thành phố, thành phường, dân cư đông đúc. Nhưng dưới những nếp nhà, mái đình, vẫn còn đó những buổi diễn chèo say sưa, mê đắm. Đó là những món ăn tinh thần bổ ích cho con người trong đời sống hôm nay.

Nguyễn Văn Học
Bình luận
  • Chọn ngày:
  • /
  • /