Hà Nội, ngày 15-11-2019

Tiên Hạ linh từ - ngôi đền thờ “thị trưởng” của Thăng Long thời nhà Trần

24/10/2019 11:11 | 0

(HNMCT) - Ở ngõ Phất Lộc (phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm) có một ngôi đền với lối kiến trúc cổ kính. Trên cổng đền có hàng chữ Nho “Tiên Hạ linh từ”. Ngôi đền nằm giữa khu dân cư đông đúc trong ngõ hẹp. Ngay cả nhiều người sinh sống tại khu vực này cũng không biết ngôi đền thờ ai, có từ bao giờ...

Đền Tiên Hạ thờ Nguyễn Trung Ngạn tại số 48 ngõ Phất Lộc, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tài đức vẹn toàn

Theo những tài liệu còn lưu, Tiên Hạ linh từ nằm trong ngõ Phất Lộc thờ Nguyễn Trung Ngạn, một danh nhân thời Trần. Tương truyền, đền được lập sau khi ông mất (năm 1370, đời vua Trần Dụ Tông). Nơi đây hiện còn lưu giữ một số di vật có giá trị về lịch sử và nghệ thuật như hoành phi, câu đối, long ngai, bài vị, khám thờ..., đặc biệt là 5 tấm bia đá, trong đó có bia “Tiên Hạ linh từ trùng tu bi ký” cho biết rõ địa danh Tiên Hạ thuộc huyện Thọ Xương, trước kia vốn là phường Đông Các, sau là phường Dũng Thọ.

Di tích cũng còn lưu đôi câu đối bằng chữ Hán ca ngợi sự nghiệp của Kinh sư Đại doãn Nguyễn Trung Ngạn, dịch nghĩa là: “Công rực rỡ ba triều sáng ngời sử cổ/ Tiếng linh thiêng bảng miếu phù trợ cố đô”. Hơn 70 năm trước, vào những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đền là nơi huấn luyện 72 tiểu đội trưởng đầu tiên của Liên khu I Hà Nội. Ngoài đền Tiên Hạ, Hà Nội còn 6 đền thờ Nguyễn Trung Ngạn, đều tập trung trong khu phố cổ.

Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370) tự Bang Trực, hiệu Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi), tỉnh Hưng Yên. Ông được coi là thần đồng khi mới 12 tuổi đã thi đỗ Thái học sinh, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp khoa thi năm Giáp Thìn (1304) - cùng khoa với Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Bảng nhãn Bùi Mộ, Thám hoa Trương Phóng. Năm 23 tuổi Nguyễn Trung Ngạn đã giữ chức Gián quan trong Ngự sử đài, sau đó kinh qua nhiều chức vụ quan trọng trong triều. Ông là đại thần trải 4 đời vua Trần: Anh Tông (1293 - 1314), Minh Tông (1314 - 1329), Hiến Tông (1329 - 1341), Dụ Tông (1341 - 1369) và có những cống hiến quan trọng trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Trung Ngạn là mẫu người tiêu biểu trong “thế hệ vàng” của trí thức Đại Việt nửa đầu thế kỷ XIV. Ông là nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà quân sự, nhà thơ, nhà lập pháp, là quan đại thần có tài kinh bang tế thế, là một trong 10 người phò tá có công lao tài đức đời Trần cùng với Trần Quang Khải, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, Trần Nguyên Đán... Năm 1332, khi giữ chức An phủ sứ Thanh Hóa, ông lập ra Bình doãn đường để xét kiện và không để xảy ra vụ việc oan uổng nào. Năm 1336, khi giữ chức An phủ sứ Nghệ An kiêm Giám tu Quốc sử viện, ông cho lập hệ thống Tào thương (kho chứa thóc) để chẩn cấp cho dân nghèo, được vua khen, xuống chiếu sai các lộ làm theo.

Sau 17 năm làm việc ở các địa phương, mùa xuân năm Tân Tỵ (1341), Nguyễn Trung Ngạn được nhậm chức Kinh sư Đại doãn - chức quan đứng đầu Kinh thành Thăng Long. Vừa cai quản kinh đô Nguyễn Trung Ngạn vừa cùng Trương Hán Siêu biên soạn hai bộ luật Hình triều đại điển và Hình thư để ban hành.

Là nhà ngoại giao có tài, Nguyễn Trung Ngạn luôn nêu cao tinh thần tự tôn dân tộc. Năm 1314, vua Trần Anh Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Mạnh (Oanh), tức Trần Minh Tông. Sứ Nguyên sang, Nguyễn Trung Ngạn khi ấy mới 26 tuổi, được nhà vua cử tiếp đón sứ thần và đi sứ đáp lễ. Trong chuyến “công tác” này, với tài ứng đối, ông đã đề cao lòng tự hào dân tộc, được đối phương nể trọng. Gặp những người lính Nguyên Mông đã từng sang xâm lược Việt Nam, ông làm bài thơ Ung Châu, có hai câu: “Tòng quân lão thú tằng kinh chiến/ Thuyết đáo Nam chinh các tự sầu” (Tạm dịch: “Những người lính già đã từng ra trận, nghe nói đến Nam chinh ai nấy mặt ủ mày chau sầu não”).

Nguyễn Trung Ngạn là người đầu tiên sáng tạo lối thơ lục ngôn thể (thơ sáu chữ), mở đường cho thơ lục ngôn thể của Nguyễn Trãi, Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm đời sau. Mùa đông năm Ất Hợi (1335), ông phụng mệnh Thượng hoàng Trần Minh Tông viết văn bia “Ma nhai kỷ công bi ký” khắc trên vách núi tại thôn Trầm Hương, huyện Tương Dương, châu Nghệ An (nay thuộc xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An) để ghi lại công tích thắng giặc Ai Lao. Trải qua gần 700 năm, đến nay “Ma nhai kỷ công bi ký” còn rõ chữ trên sườn núi. Ngoài ra, ông còn để lại cho hậu thế Giới Hiên thi tập lưu trong sử sách.

Danh tiếng còn lưu

Sách Đại Việt sử ký toàn thư đã trân trọng đánh giá về Nguyễn Trung Ngạn như sau: “Về sau hai lần sung chức Hựu sảnh (tức Nội mật viện). Đến thời Trần Dụ Tông vào triều, giữ trọn tiếng tốt, không phụ là bậc nho giả, thọ hơn 80 tuổi”.

Trải 4 đời vua, làm quan đến chức Tể tướng đầu triều, Nguyễn Trung Ngạn là một trong những danh nhân được thờ phụng nhiều nhất ở Kinh thành Thăng Long. Cùng với hệ thống di tích dày đặc chứa đựng những giá trị lịch sử - văn hóa, giá trị không gian đô thị, quần thể kiến trúc tiêu biểu qua các thời kỳ, 7 ngôi đền thờ danh nhân Nguyễn Trung Ngạn trên địa bàn quận Hoàn Kiếm ngày nay góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa tiêu biểu của đất kinh kỳ nghìn năm văn hiến, là tiềm năng có giá trị để phát triển du lịch Thủ đô.

Trong số các di tích thờ Nguyễn Trung Ngạn, chỉ có đền Hương Tượng ở 64 Mã Mây vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ngôi đền hiện còn nhiều bản thần tích, sắc phong từ năm 1783 đến 1924 và một số tấm bia đá, trong đó có bia mang niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 6 (1825) ghi rõ thời gian khởi dựng di tích. Những đền thờ ông còn lại đều đã xuống cấp hoặc bị biến dạng.

Đền Hương Nghĩa ở 13 Đào Duy Từ được phối thờ cả Nguyễn Trung Ngạn và Cao Tứ, một nhân vật lịch sử thời An Dương Vương chống Triệu Đà xâm lược. Vốn trước kia danh nhân Nguyễn Trung Ngạn được thờ ở đình làng Hương Nghĩa, nhưng về sau do ngôi đình bị hủy hoại người dân mới đưa bài vị của ông về thờ chung với Tướng quân Cao Tứ. Còn lại 4 ngôi đền khác nay đã bị biến dạng. Đình Mỹ Lộc ở 45 Nguyễn Hữu Huân, đình Phúc Lộc ở số 6 Lương Ngọc Quyến và đình Ưu Nghĩa ở 2A Nguyễn Hữu Huân đã thành nhà dân; đình Hương Bài ở 90 Trần Nhật Duật cũng bị thu hẹp rất nhiều so với ban đầu.

Tình trạng ấy cũng tựa như con phố mang tên Nguyễn Trung Ngạn nối giữa phố Phạm Đình Hổ với phố Nguyễn Công Trứ, nay chỉ là ngõ cụt. Gần 100 hộ dân sinh sống trong con ngõ quanh co chật hẹp, chỉ còn 3 hộ gắn biển số nhà có ghi tên phố. Điều mà người dân mong muốn nhất hiện nay là cái tên Nguyễn Trung Ngạn sớm được đặt cho một con phố bề thế, xứng tầm đối với một con người tài đức vẹn toàn, có công với dân với nước như danh nhân Nguyễn Trung Ngạn - vị “thị trưởng” của Thăng Long thời nhà Trần.

Nguyễn Năng Lực
Bình luận
  • Chọn ngày:
  • /
  • /